5 Tháng Tám, 2020

Lịch sử

Tuyên bố giả thuyết giựt gân khiến hàng ngàn người rời bỏ Sài Gòn

Ngày 28/3/1975, Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ, tướng Frederick C. Weyand, bay sang Sài Gòn khảo sát tình hình để báo cáo cho Tổng thống Mỹ. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ là James R. Schlesinger đã chỉ đạo Weyand không được hứa gì nhiều với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu vì không thể đảo ngược được tình thế, ông ta thấy tình hình của quân Việt Nam Cộng hòa đã trở nên quá tồi tệ.

Sau khi tướng Weyand về Mỹ, Bộ trưởng Quốc phòng Schlesinger tuyên bố một giả thuyết giật gân, rằng “nếu cộng sản nắm chính quyền thì có thể 200.000 người Việt Nam sẽ bị tàn sát”. Sáng hôm sau, tờ báo Pacific Starsand Stripes (tờ báo của quân đội Mỹ), xuất bản ở Sài Gòn, đăng lại lời tuyên bố ấy bằng chữ đậm. Nhiều người dân ở miền Nam Việt Nam tin lời Schlesinger và hoảng sợ, bỏ nhà cửa để tìm cách chạy trốn (tuy nhiên, cuối cùng không có một cuộc tàn sát nào xảy ra, quân Giải phóng tiến vào Sài Gòn một cách thuận lợi với sự hỗ trợ của nhiều người dân, nhiều người dân khác thì rất ngạc nhiên vì quân Giải phóng có thái độ mềm mỏng và kỷ luật tốt, họ không hề tiến hành cướp bóc hoặc phá phách như những gì báo chí Mỹ-Việt Nam Cộng hòa tuyên truyền).

Thấy rõ sự thất bại không thể cứu vãn nổi, sau khi xem báo cáo của Weyand, Ngoại trưởng Henry Kissinger đã nguyền rủa: “Sao bọn chúng [Việt Nam Cộng hòa] không chết quách đi. Điều tồi tệ nhất có thể xảy ra là chúng cứ sống vất vưởng hoài”. Phần lớn các nhân vật trong Quốc hội và Chính phủ Mỹ phản đối việc đưa quân Mỹ trở lại Việt Nam. Vấn đề cấp bách hơn lúc này là phải đưa người Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam.

 

 

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nữ tướng Nguyễn Thị Định (15-3-1920): Nhớ Cô Ba Định

Tên tuổi cô Nguyễn Thị Định – nữ tướng của Thời đại Hồ Chí Minh – đi vào lịch sử như một huyền thoại. Cuộc đời, sự nghiệp, khí chất, tinh hoa của người phụ nữ ấy gắn với cách mạng, với Nam bộ, hiện thân cho vẻ đẹp thuần khiết, tuyệt vời của phụ nữ Việt Nam. Như một sự sắp đặt của lịch sử, Nguyễn Thị Định gắn với dấu ấn tàu không số đầu tiên, với cuộc Đồng khởi Bến Tre vang dội, với đội Quân Giải phóng anh hùng…

Cô Ba Định với các nữ đại biểu dự Đại hội Anh hùng – Chiến sĩ thi đua miền Nam lần thứ 2, tháng 9-1969. Ảnh: Tư liệu

Người phụ nữ ấy là con út trong gia đình có 10 anh em, được anh ruột giác ngộ cách mạng, năm 16 tuổi đã đi làm giao liên và hai năm sau được kết nạp vào Đảng. Trong quá trình hoạt động, cô Nguyễn Thị Định được tổ chức tác hợp, xây dựng gia đình với người đồng chí tên là Nguyễn Văn Bích, Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre. Khi con được 3 ngày tuổi thì người chồng bị bắt. Người vợ trẻ có ẵm con đi thăm chồng được một lần, rồi sau đó không lâu thì được tin người chồng đã hy sinh ngoài Côn Đảo.

Tướng Nguyễn Thị Định – Người phụ nữ huyền thoại Việt Nam

Mới 20 tuổi, chồng mất, vừa nuôi con, vừa hoạt động, đến lượt mình lại bị bắt giam cầm lúc con trai chưa đầy 7 tháng, bị biệt giam rồi bị đày lên Bà Rá. 3 năm bị giam cầm, cô Ba Định cho rằng, nhà tù cũng là trường học, “lên Bà Rá, tôi như được dự lớp huấn luyện Mác-xít chính quy, ở đó có bao anh chị đã dạy tôi, ở đó có những giáo sư đỏ”. Sau khi ra tù, cô về lại Bến Tre tiếp tục hoạt động và tham gia cướp chính quyền 1945.

Đồng chí Thái Bá Nhiệm (thứ 4 từ trái sang) chụp ảnh lưu niệm với bà Nguyễn Thị Định, Phó Tổng Tư lệnh quân giải phóng miền Nam (1969).

Tháng 3-1946, cô Ba cùng Giáo sư Ca Văn Thỉnh và một số đồng chí làm cuộc hành trình bằng ghe bầu vượt biển ra Bắc báo cáo tình hình chiến trường và xin vũ khí. Lần đi này cô Ba được gặp Bác Hồ, được ăn cơm và nói chuyện miền Nam với Bác. Bác đã hỏi han từng người trong đoàn, tình hình và đời sống đồng bào và khen ngợi Nam bộ có sáng kiến mở con đường vận chuyển trên biển. Theo ý Bác, cô Ba Định cùng một số thành viên được dự lớp học nghị quyết của Trung ương về tình hình nhiệm vụ mới, rồi nhận lãnh tài liệu, vũ khí để sớm trở về. Chuyến trở về đến rừng Thạnh Phú, Bến Tre an toàn trong niềm vui có thêm vũ khí đánh giặc… Khi về, cô kể lại: “Ra đó, tôi chỉ chăm bẵm xin vũ khí. Gặp Bác không nói được nhiều mà khóc nhiều. Bác cũng không cầm nước mắt khi nhắc đến đồng bào miền Nam còn nhiều khó khăn, gian khổ”. Nhờ lúc nhỏ từng quen sóng gió và bơi thuyền thúng rất giỏi nên cô Ba thuận lợi hơn những người cùng đi và không bị say sóng.

Thiếu tướng Nguyễn Thị Định trong một chuyến công tác tại Hải Phòng (bà Phạm Thị Tín đứng thứ tư, từ trái sang).

Với sự phấn đấu kiên cường, cô Ba được tin cậy và được giao nhiệm vụ Phó Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre năm 1959, rồi sau đó làm Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Mặt trận Giải phóng tỉnh. Năm 1960, cô chỉ đạo phong trào Đồng khởi, vận dụng sáng tạo Nghị quyết 15, với tinh thần chống lại bạo lực bằng bạo lực, cùng với sức mạnh chính trị, với Đội quân tóc dài độc đáo của Bến Tre. Từ 3 xã điểm là Bình Khánh, Phước Hiệp, Định Thủy (Mỏ Cày), phong trào lan ra cả Cù lao Minh và toàn tỉnh Bến Tre. Cuộc Đồng khởi Bến Tre và một số tỉnh nổ ra có tác động mạnh mẽ, tạo nên khí thế mới đối với chiến trường miền Nam lúc bấy giờ.

Năm 1961, cô Ba được điều về Bộ Tư lệnh miền Nam. Và năm 1965 được phong Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh miền Nam. Bấy giờ, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cho rằng: “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng khởi Bến Tre thì người đó rất xứng đáng được làm tướng và ở trong Bộ Tư lệnh đánh Mỹ”. Lúc sinh thời, Bác Hồ nói: “Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam là cô Nguyễn Thị Định, cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta”. Trong chiến tranh giữ nước hiện đại, nữ tướng Nguyễn Thị Định hoàn toàn có đủ điều kiện đảm đương nhiệm vụ được giao bởi vốn sống phong phú trong phong trào nhân dân đánh giặc. Hình ảnh một vị tướng giản dị, với chiếc áo bà ba, khăn rằn quàng cổ, ngồi vá áo cho chiến sĩ, tự nói lên tất cả vẻ đẹp thanh cao, trong ngần, ấm áp, thân thương.

Năm 1982, cô Ba giữ nhiệm vụ Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ quốc tế. Các chỉ đạo về phong trào phụ nữ của cô rất sát với thực tiễn bấy giờ. Năm 1986, cô Ba là Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Những người cộng sự với cô Ba đều cho rằng: Cô luôn bênh vực và sẵn sàng can thiệp những vụ oan ức, nhất là đất đai, luôn muốn nghe cho rõ, cần thì đi tận nơi, không ngại bày tỏ chính kiến. Với đôi chân mày đậm, đôi mắt đen tròn, vẻ mặt cương nghị, cách ăn nói chân chất, mộc mạc, cô Ba có cách thuyết phục từ phẩm chất, khí chất của mình và từ thực tiễn cuộc sống.…

Sau ngày mất, cô Ba được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang. Nhân dân Hát Môn, Hà Tây rước bát hương vị nữ tướng Thời đại Hồ Chí Minh về thờ trong Đền Hai Bà Trưng. Trong Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định được xây dựng khang trang, ấm cúng ở Lương Hòa, Giồng Trôm, Bến Tre có khắc câu nói ấn tượng của Giáo sư Trần Văn Giàu: “Những người như chị sống làm tướng, chết thành thần”. Tên Nguyễn Thị Định được đặt nhiều con đường, trường học ở Việt Nam. Ở Cuba cũng có làng mang tên Nguyễn Thị Định. Với 72 tuổi đời, 56 năm hoạt động cách mạng, cả cuộc đời vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng phụ nữ của nữ tướng Nguyễn Thị Định đã nêu là tấm gương sáng về đức hy sinh, lòng nhân hậu, một người phụ nữ tài đức vẹn toàn.

Mộ phần cô Ba Định nằm ở Nghĩa trang TPHCM, được nhiều người lui tới thắp hương. Phần dưới tấm bia tưởng niệm có để tên người con trai yêu quý Nguyễn Ngọc Minh, với cái tên thường gọi là On. On được tập kết ra Bắc, và trong một cơn đau ruột không cứu kịp, giờ chót On đã không gặp được mẹ mình.

Giờ đây, quê hương Đồng khởi Bến Tre đang dậy lên một tinh thần “Đồng khởi Mới” nhằm tạo nên những dấu ấn mới trong thời kỳ xây dựng. 3 cù lao giờ đã nối liền và nối Bến Tre với cả vùng, với cả nước. “Tinh thần Đồng khởi” đang tiếp tục tạo nên những động lực mới, những kỳ tích mới. Và hình ảnh cô Ba – một nhà lãnh đạo kiên trung, dung dị của “Nam Bộ thành đồng” như luôn mãi đồng hành với những biến đổi lớn lao vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh trên đất nước Việt Nam.

Nghề dệt lụa ở Bến Tre dùng khung dệt tự động Jacquard từ năm 1929

Đồng bằng sông Cửu Long với 13 tỉnh, thành được biết đến là nơi chim trời, cá nước với sự trù phú của ruộng vườn, với mênh mông quạnh đỏ của phù sa sông nước… Trong đó, đất Bến Tre được nhắc đến qua nhạc phẩm “Dáng đứng Bến Tre”, qua đội quân tóc dài cùng phong trào Đồng khởi… Ấy nhưng đó là những nhắc nhớ của thời hiện đại. Vùng đất được thiên tạo riêng có bên một nhánh sông Tiền, cùng hợp lưu với sông Hậu đổ về dòng Cửu Long có lịch sử, văn hóa… xa xưa hơn nhiều. Chẳng phải tìm đâu xa, tác phẩm Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến 1945) của tác giả Nguyễn Duy Oanh mở ra những mảnh ghép hoàn chỉnh về vùng đất được người Khmer gọi là “Sốc Tre”.

Nghe det lua o Ben Tre dung khung det tu dong Jacquard tu nam 1929 hinh anh 1 83268101_2734238750001517_2364624876519555072_n.jpg
Ấn phẩm Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến 1945) năm 1971 của Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa và năm 2017 của NXB Tổng hợp TP.HCM. Ảnh: Trần Đình Ba.

Khi viết nên tác phẩm, tác giả cũng tự giới hạn phạm vi nghiên cứu như lời ông bộc bạch trong phần “Tựa”: “Trong sách này, chúng tôi chỉ chép lại khoảng thời gian từ khi Bến Tre được về với chúa Nguyễn (1757) đến ngày Nhựt chấm dứt chánh quyền tại đây (19/8/1945). Chúng tôi nghiêng về phần lịch sử, nhất là tiểu sử các danh nhân trong tỉnh vì chúng tôi nghĩ rằng đây cũng là một dịp để nhắc nhở và nhớ ơn các vị tiền nhân ấy”.

Ban đầu là Tiểu luận Cao học Sử Việt Nam của tác giả tại Đại học Văn khoa (thuộc Viện Đại học Sài Gòn), sau đó tác phẩm được in lần đầu tiên năm 1971 và tái bản năm 2017. Nội dung tác phẩm được chia làm ba phần tạo nên bức tranh hoàn chỉnh về vùng đất, con người, lịch sử, địa lý, văn hóa… Bến Tre.

Nghe det lua o Ben Tre dung khung det tu dong Jacquard tu nam 1929 hinh anh 2 Screenshot_2_3_1.jpg
Hình ảnh xe thổ mộ chạy trên đường ở Bến Tre xưa.

Phần Một tác phẩm tập trung nghiên cứu về “địa lý hình thể và địa lý nhân văn” cùng với địa lý lịch sử Bến Tre. Qua đó ta biết được lai lịch của Bến Tre (Kiến Hòa) với những đổi thay địa giới qua thời gian. Tác giả cũng tìm hiểu rất chi tiết về vùng đất này qua những số liệu thống kê rất chi tiết, cụ thể về sông ngòi, chợ búa, cầu đường, tôn giáo… Chẳng hạn về mặt địa lý đã thống kê rõ ràng hình thể, diện tích, địa chất, khí hậu, sông ngòi, đường sá của Bến Tre. Trong đó, ta có thể biết được địa thế của vùng đất này ngoài đồng bằng, có những vùng đất giồng với những tên gọi cụ thể như Giồng Trôm, Giồng Tre, Giồng Chuối… hệ thống đường sá tính đến năm 1945 hay trong hệ thống sông ngòi có một đặc tính riêng có ở sông Ba Lai là hiện tượng sóng thần hay nghịch triều (la mascaret) gắn với huyền thoại vị thần miếu Rạch Xép. Đáng lưu ý là cho đến thời điểm 1971, hiện tượng này đã không còn.

Lịch sử Bến Tre được bắt đầu từ gắn với Thủy Chân Lạp và dấu mốc quan trọng là năm Đinh Sửu (1757) khi Nặc Nhuận hiến đất Trà Vang (Trà Vinh, Bến Tre) và Ba Thắc (Sóc Trăng, Bạc Liêu) cho Võ vương Nguyễn Phúc Khoát để từ đây, đất Bến Tre nhập vào lãnh thổ nước Việt. Tiến trình lịch sử Bến Tre với tên gọi, nhập tách, địa giới hành chính được ghi rõ đến mốc 1945 kết thúc thời Pháp thuộc ở phần “Địa lý lịch sử” và phần “Lịch sử đấu tranh và di tích lịch sử”. Phong trào đấu tranh chống Pháp toát lên lòng yêu nước qua những trận chiến của nghĩa quân Phan Ngọc Tòng, Tán Kế… cho đến phong trào cộng sản những năm 1930.

Nghe det lua o Ben Tre dung khung det tu dong Jacquard tu nam 1929 hinh anh 3 DAFANCAOM01_30FI104N081_P.5.jpg
Xe sợi ở Ba Tri, Bến Tre.

Phần Hai tập trung tìm hiểu các lĩnh vực về hành chánh, kinh tế, giáo dục, y tế mà nhờ đó, những đổi thay, biến thiên về các lĩnh vực trên qua thời gian được miêu tả, dẫn chứng sống động, tỉ mỉ với những cứ liệu, số liệu thuyết phục. Qua phần này bức tranh toàn cảnh về sự phát triển của Bến Tre được trình bày qua các mặt hành chính, kinh tế, giáo dục và y tế hiện lên sống động. Qua đó ta được biết ban đầu Bến Tre nằm trong địa phận dinh Long Hồ, là tổng Tân An (1799), rồi lên huyện Tân An (1808), phủ Hoằng An (1823), phủ Hoằng An và phủ Hoằng Đạo (1837), phủ Hoằng Trị (1851), hạt Bến Tre (1874)…

Các đơn vị hành chính cấp tổng, làng qua thời gian, bộ máy chức việc, quân đội được trình bày theo tiến trình thời gian từ Nam triều đến Pháp thuộc là kho tư liệu đáng quý cho những nhà nghiên cứu về sau. Hoạt động kinh tế cùng giáo dục, y tế được tìm hiểu sâu qua thời Nam triều (1757-1867) và thời Pháp thuộc (1867-1945). Nhất là sự phát triển của kinh tế dưới ảnh hưởng của người Pháp, cùng với nền nông nghiệp truyền thống lấy cây lúa làm chủ lực, các hoạt động kinh tế tiền công nghiệp đi kèm cũng đáng chú ý như: 17 nhà máy xay lúa (1928); lò gạch và trại cưa: 1901 có 4 lò, 4 trại, 1929 có 3 lò, 12 trại; lò nấu rượu: 1901 có 5, 1930 có 1 với độc quyền của Hoa kiều… nghề dệt lụa đã dùng khung dệt tự động Jacquard thay thế sức người từ năm 1929.

Nếu như trước khi người Pháp đến, nền giáo dục Hán ngữ vẫn phổ biến cùng những sách Nhất thiên tự, Tam thiên tự, Tứ thư, Ngũ kinh… thì khi có ảnh hưởng của Pháp, nền giáo dục dùng quốc ngữ, Pháp ngữ đã ảnh hưởng đến nơi đây với trường học quốc ngữ đầu tiên tại tỉnh là một nhà lá được lập năm 1868. Năm 1879, giáo dục dạy quốc ngữ, Pháp ngữ trở nên bắt buộc. Tác giả cũng đã thống kê các trường học, hội khuyến học, Ngân sương học hiệu đến niên khóa 1944-1945.

Phần Ba tìm hiểu về lịch sử Bến Tre thời gian 1757-1945 cùng với những danh nhân trong tỉnh như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký… Qua những ghi chép kỹ lưỡng, phần này đã tái hiện hình ảnh thầy giáo Võ Trường Toản, một người thầy đức cao nơi vùng đất Gia Định xưa là tiêu biểu cho Nho học phương Nam, được chúa Nguyễn Ánh phong là “Gia Định xử sĩ sùng đức Võ tiên sinh”; hay Trương Tấn Bửu, tôi thần nổi danh của Nguyễn Ánh từng cõng chúa qua sông, từng đầu đội nón thúng nấu cơm cho chúa ăn…; rồi đó là một Phan Thanh Giản tuyệt thực mà chết để giữ cái tiết của kẻ sĩ mất nước…

Nghe det lua o Ben Tre dung khung det tu dong Jacquard tu nam 1929 hinh anh 4 Phan_Thanh_Gian.jpg
Phan Thanh Giản, một danh nhân đất Bến Tre.

Tác giả cũng đi vào tìm hiểu lĩnh vực văn chương của vùng đất này qua huyền thoại, tục ngữ, ca dao. Hoạt động văn chương, nhất là văn chương bình dân được thể hiện qua kho tàng tục ngữ, ca dao, câu đố được Nguyễn Duy Oanh sưu tầm và phân giai đoạn là một điểm khá thú vị trong chuyên khảo về Bến Tre, mà một trong những điểm nhấn thú vị là hình thức xuất Hán tự, một kiểu đố thơ lục bát phổ biến ở Nam Bộ góp phần cho thấy đời sống tinh thần phong phú của người Bến Tre. Ví như câu đố: “Cô là con gái còn non/Cớ sao lại có đứa con ngồi kề?” dùng để chỉ chữ hảo 好 với sự kết hợp chữ nữ (con gái) bên trái và chữ tử (con trai) bên phải; hoặc câu đố “Chiều chiều lại nhớ chiều chiều,/Nhớ rồi lại nhớ bấy nhiêu nhớ hoài” với đáp án là chữ đa 多 với nghĩa là nhiều…

Kho tàng huyền tích cũng rất phong phú với giai thoại “Cái hòm chôn xác không đầu” tôn vinh nhà ái quốc Phan Ngọc Tòng đánh giặc Pháp; tín ngưỡng thờ Cá Ông Nam Hải phổ biến ở cư dân miệt biển với ý nghĩa “Vua cá Ông sẽ sẵn lòng cứu vớt họ [người đi biển] khỏi tai nạn, trừ những kẻ độc ác vô thần”… được Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam trình bày trong phần “Văn chương bình dân”.

 

Hoài niệm Bến Tre xưa qua 200 bức ảnh thế kỷ trước phần 2

101. Bến phà cũ phía Mỏ Cày, một góc chụp khác

Bến phà cũ phía Mỏ Cày, một góc chụp khác,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

102. Cổng Villa Trần Quế Tử – 1990

Cổng Villa Trần Quế Tử - 1990,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

103. Bắc Rạch Miễu

Bắc Rạch Miễu,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Trước năm 1975, đi phà được gọi là đi bắc

104. Bắc Rạch Miễu

Bắc Rạch Miễu,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

105. Vị trí này giờ là Điện lực Bến Tre (Quốc lộ 60 hướng về cầu Rạch Miễu)

Vị trí này giờ là Điện lực Bến Tre (Quốc lộ 60 hướng về cầu Rạch Miễu),Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

106. “Ngày hội” huy động lương thực năm 1987 tại Giồng Trôm

"Ngày hội" huy động lương thực năm 1987 tại Giồng Trôm,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

107. Tỉnh lộ 885 hướng về Giồng Trôm – cách biệt 20 năm

Tỉnh lộ 885 hướng về Giồng Trôm - cách biệt 20 năm,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

108. Dàn đáy gần cầu Kiến vàng năm 1967

Dàn đáy gần cầu Kiến vàng năm 1967,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

109. Chợ Bến Tre 1961

Chợ Bến Tre 1961,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sửảnh John Dominis

Chợ Bến Tre 1961 (ảnh John Dominis). Đường này nay là đường Nguyễn Du – bên hông phải chợ Trúc Giang (chợ Phường 2), nhìn thấy bờ sông phía Mỹ Thạnh An ở xa xa

110. Xuống đò qua sông ở miền Nam 1964

Xuống đò qua sông ở miền Nam 1964,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử
Ảnh: Chris Newlon Green

Xuống đò qua sông ở miền Nam 1964

111. Trẻ em miền Nam 1964

Trẻ em miền Nam 1964,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sửẢnh: Chris Newlon Green

112. Ghe chèo 2 mái miền Tây – 1964

Ghe chèo 2 mái miền Tây - 1964,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sửẢnh: Chris Newlon Green

113. Hình thầy cô và học sinh lớp 12A1 trường Nguyễn Đình Chiểu niên khóa 82-83 – chụp ngày 20/11/1982

Hình thầy cô và học sinh lớp 12A1 trường Nguyễn Đình Chiểu niên khóa 82-83 - chụp ngày 20/11/1982,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

114. Lớp học của Trường Trung học Kiến Hòa 1974

Lớp học của Trường Trung học Kiến Hòa 1974,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử
,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử
,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

117. Vòng xoay trung tâm TP Bến Tre

Vòng xoay trung tâm TP Bến Tre,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Một góc chụp cực hiếm khu vực vòng xoay và nước trung tâm tỉnh lị Bến Tre nhìn về cổng kiểm soát ghe thuyền (cầu Bến Tre hiện nay), khoảng 1960 đến 1967.

118. Cổng kiểm soát ghe thuyền cuối đường Phan Thanh Giản 1951

Cổng kiểm soát ghe thuyền cuối đường Phan Thanh Giản 1951,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Cổng kiểm soát ghe thuyền cuối đường Phan Thanh Giản 1951- nay là cuối đại lộ Đồng Khởi – chân cầu Bến Tre. Lúc này chưa có cầu qua Mỹ Thạnh An

119. Chợ Trúc Giang khoảng 1965-1967, nay là TTTM (chợ Phường 2)

Chợ Trúc Giang khoảng 1965-1967, nay là TTTM (chợ Phường 2),Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

120. Bến phà Hàm Luông (phía Mỏ Cày) thời hoàng kim 1990-2000

Bến phà Hàm Luông (phía Mỏ Cày) thời hoàng kim 1990-2000,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

121. Trường Trung học Kiến Hòa 1970, hình dưới là dãy C

Trường Trung học Kiến Hòa 1970, hình dưới là dãy C,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

122. Giáo viên đi dạy bằng xe đạp trên đường đất mấp mô lầy lội vào những năm 80

Giáo viên đi dạy bằng xe đạp trên đường đất mấp mô lầy lội vào những năm 80,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

123. Trường Cao đẳng Sư phạm Bến Tre – những năm mới thành lập

Trường Cao đẳng Sư phạm Bến Tre - những năm mới thành lập,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

124. Mặt sau chợ Trúc Giang (nhìn ra sông) trước và sau khi bị chiến tranh tàn phá 1968

Mặt sau chợ Trúc Giang (nhìn ra sông) trước và sau khi bị chiến tranh tàn phá 1968,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

125. Bến phà Hàm Luông phía Mỏ Cày – 1975

Bến phà Hàm Luông phía Mỏ Cày - 1975,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

126. Đường Nguyễn Huệ đang thi công – khoảng năm 1986

Đường Nguyễn Huệ đang thi công - khoảng năm 1986,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

127. Đường cặp bờ sông những năm 90

Đường cặp bờ sông những năm 90,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

128. Hai bức ảnh cùng 1 góc chụp từ khuôn viên Bảo tàng nhìn qua bờ Mỹ Thạnh An, cách nhau khoảng 40 năm (1961-2001)

Hai bức ảnh cùng 1 góc chụp từ khuôn viên Bảo tàng nhìn qua bờ Mỹ Thạnh An, cách nhau khoảng 40 năm (1961-2001),Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

129. Nữ sinh trường Bồ Đề trước sân chùa Viên Minh khoảng 1960

Nữ sinh trường Bồ Đề trước sân chùa Viên Minh khoảng 1960,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

130. Trúc Giang Airfield – 1968 (Sân bay Sơn Đông)

Trúc Giang Airfield - 1968 (Sân bay Sơn Đông),Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

131. BENTRE L’HOPITAL PROVINCIAL – Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu ngày nay

BENTRE L'HOPITAL PROVINCIAL - Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu ngày nay,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

132. Trúc Giang Airfield (Sân bay Sơn Đông )1968 – máy bay trinh sát L19 cất cánh trên đường băng nhôm

Trúc Giang Airfield (Sân bay Sơn Đông )1968 - máy bay trinh sát L19 cất cánh trên đường băng nhôm,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

133. Cầu Cái Cối (cầu Bến Tre) nhìn về bùng binh 1966

Cầu Cái Cối (cầu Bến Tre) nhìn về bùng binh 1966,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

134. Chợ cá bến lở 1966

Chợ cá bến lở 1966,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

135. Thầy và học sinh trường Nguyễn Đình Chiểu trên bờ hồ Trúc Giang khoảng 1990

Thầy và học sinh trường Nguyễn Đình Chiểu trên bờ hồ Trúc Giang khoảng 1990,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

136. Ngã ba Tháp 1966

Ngã ba Tháp 1966,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

137. Ngã ba Tháp 1966

Ngã ba Tháp 1966,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

138. Nữ sinh trường Trung học Kiến Hòa đang đến trường – khoảng từ 1965 đến 1970

Nữ sinh trường Trung học Kiến Hòa đang đến trường - khoảng từ 1965 đến 1970,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Nữ sinh trường Trung học Kiến Hòa đang đến trường – khoảng từ 1965 đến 1970 – con đường hiện nay là đường Lê Quý Đôn. (Ảnh cắt từ một video màu hiếm hoi của Kiến Hòa – Bến Tre xưa)

139. Không ảnh Cồn Phụng 1972

Không ảnh Cồn Phụng 1972,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

140. Ông Đạo Dừa – Nguyễn Thành Nam đang thuyết giảng trên ụ nổi năm 1969

Ông Đạo Dừa - Nguyễn Thành Nam đang thuyết giảng trên ụ nổi năm 1969,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Ông Đạo Dừa – Nguyễn Thành Nam đang thuyết giảng trên ụ nổi năm 1969 – giờ ụ nổi là nhà hàng nổi Bến Tre, còn nguyên điện nổi của ông thành khu du lịch Cồn Phụng

141. Trẻ em chơi bắn “cu li” (bắn bi) ở cồn Tân Dinh (cồn Phụng) 1969

Trẻ em chơi bắn "cu li" (bắn bi) ở cồn Tân Dinh (cồn Phụng) 1969,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

142. Bán hoa vạn thọ dịp Tết Kỷ Dậu 1969

Bán hoa vạn thọ dịp Tết Kỷ Dậu 1969,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

143. Bán dép mủ và bông mủ trong dịp Tết Kỷ Dậu 1969

Bán dép mủ và bông mủ trong dịp Tết Kỷ Dậu 1969,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

144. Bánh xèo miền Tây 1969

Bánh xèo miền Tây 1969,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

145. Lính đi tuần dưới sương mù trong những rặng dừa của tỉnh Kiến Hòa ngày 15 tháng 1 năm 1969

Lính đi tuần dưới sương mù trong những rặng dừa của tỉnh Kiến Hòa ngày 15 tháng 1 năm 1969,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sửSoldiers moves through the morning mist in the coconut groves of Kien Hoa province, in South Vietnam Mekong Delta, Jan 15 1969

146. Cô bé bán mận hồng đào chợ Mỹ Tho, năm 1969

Cô bé bán mận hồng đào chợ Mỹ Tho, năm 1969,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

147. Tuyến xe đò Sài Gòn – Kiến Hòa 1969

Tuyến xe đò Sài Gòn - Kiến Hòa 1969,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

148. Đò ngang từ cồn ông đạo Dừa đi về phía bờ Kiến Hòa, 1969

Đò ngang từ cồn ông đạo Dừa đi về phía bờ Kiến Hòa, 1969,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

(Water Taxi across the Mekong to Kien Hoa January 1969. Stern view of water taxi approaching Kien Hoa Province from Coconut Monk island)

149. Khu chợ chồm hổm cặp bờ sông 1969

Khu chợ chồm hổm cặp bờ sông 1969,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

150. Một góc chợ cá bến lở 1967

Một góc chợ cá bến lở 1967,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử
,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

152. Hoa cắt tỉa từ củ cải và dưa leo bán trong dịp Tết Kỷ Dậu 1969

Hoa cắt tỉa từ củ cải và dưa leo bán trong dịp Tết Kỷ Dậu 1969,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

153. Phụ nữ và trẻ em Kiến Hòa thời 1961

Phụ nữ và trẻ em Kiến Hòa thời 1961,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sửẢnh: John Dominis

154. Nụ cười hồn nhiên trên bờ sông Tiền, 1969

Nụ cười hồn nhiên trên bờ sông Tiền, 1969,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

155. Ngồi trên phà nhìn về phía Vàm, những năm 90

Ngồi trên phà nhìn về phía Vàm, những năm 90,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

156. Bánh mì Mỹ Tho, năm 1969

Bánh mì Mỹ Tho, năm 1969,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

157. Dinh Tham biện của Pháp năm 1894 – tiền thân của Bảo tàng tỉnh hiện nay

Dinh Tham biện của Pháp năm 1894 - tiền thân của Bảo tàng tỉnh hiện nay,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Dinh Tham biện được xây dành cho viên Chánh Tham biện (Administrateur) ở và làm việc, chức Chánh Tham biện này tương đương với Tỉnh trưởng thời Mỹ, sau đó thì thành dinh Tỉnh trưởng Kiến Hòa (thời ông Phạm Ngọc Thảo), sau 1975 mới trở thành Bảo tàng cho đến nay.

158. Người Việt đào kênh tưới nước tại tỉnh Kiến Hòa, năm 1961

Người Việt đào kênh tưới nước tại tỉnh Kiến Hòa, năm 1961,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Nguyên văn tác giả ghi: “Vietnamese digging an irrigation ditch in Kien Hoa province. 1961”

159. Thêm một1 góc chụp ngã ba Tháp năm 1962

Thêm một1 góc chụp ngã ba Tháp năm 1962,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Thêm 1 góc chụp ngã ba Tháp năm 1962, hướng nhìn về phía chợ Lạc Hồng – cảnh xa xưa nhưng thoáng nét văn minh, tươm tất

160. Chợ Trúc Giang bị tàn phá trong trận Mậu Thân 1968

Chợ Trúc Giang bị tàn phá trong trận Mậu Thân 1968,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Chợ Trúc Giang bị tàn phá trong trận Mậu Thân 1968, giờ là chợ Phường 2. Con đường trong ảnh là đường Nguyễn Trãi hiện nay, hướng chụp từ Phan Duy iPhone nhìn xéo ra bờ sông

161. Một chuyến xe đò tuyến Ba Tri – thị xã Trúc Giang vào năm 1961 (chữ có ghi trên thân xe: Trúc Giang – Ba Tri)

Một chuyến xe đò tuyến Ba Tri - thị xã Trúc Giang vào năm 1961 (chữ có ghi trên thân xe: Trúc Giang - Ba Tri),Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

162. Hai tháp nước này gần phà Rạch Miễu, mé bờ Tiền Giang, ảnh chụp năm 1969

Hai tháp nước này gần phà Rạch Miễu, mé bờ Tiền Giang, ảnh chụp năm 1969 ,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

163. Đội phụ trách bầu cử ghé nhà dân ở tỉnh Kiến Hòa năm 1961

Đội phụ trách bầu cử ghé nhà dân ở tỉnh Kiến Hòa năm 1961,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Election team visiting residents of Kien Hoa province, 1961

164. Một góc chợ Trúc Giang – khu hàng chuối 1961

Một góc chợ Trúc Giang - khu hàng chuối 1961,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

165. Ảnh chụp tại vòng xoay thị xã Bến Tre năm 1983

Ảnh chụp tại vòng xoay thị xã Bến Tre năm 1983,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử
,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử
,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử
,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử
,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

170. Đường Hùng Vương và 1 góc chợ Bến Tre bị ngập lụt thời Pháp năm 1948

Đường Hùng Vương và 1 góc chợ Bến Tre bị ngập lụt thời Pháp năm 1948,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

171. Một góc quê hương Bến Tre năm 1948-1950

Một góc quê hương Bến Tre năm 1948-1950,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

172. Hồ Chung Thủy (hồ Trúc Giang) ngày và đêm – năm 1930 (cách nay 86 năm)

Hồ Chung Thủy (hồ Trúc Giang) ngày và đêm - năm 1930 (cách nay 86 năm),Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Hồ Chung Thủy (hồ Trúc Giang) ngày và đêm – năm 1930 (cách nay 86 năm). Lúc này thành phố Bến Tre còn là xã An Hội của quận Châu Thành

173. Quận Mỏ Cày những năm 1948-1950

Quận Mỏ Cày những năm 1948-1950,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

174. Làng quê xứ dừa thập niên 70-80

Làng quê xứ dừa thập niên 70-80,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

175. Bắc Rạch Miễu 1960-1964

Bắc Rạch Miễu 1960-1964 ,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Bắc Rạch Miễu 1960-1964 (chiếc đò này gọi là chiếc bắc (le bac), còn chiếc hình hộp 2 đầu mới gọi là chiếc phà (ferry)). Nguyên ngữ : “Bac de Rach Mieu 1964”

176. Rạp Lạc Thành 1970

Rạp Lạc Thành 1970,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Rạp Lạc Thành 1970, sau 75 là rạp Đồng Khởi

177. Bến xe lam ngã ba Tháp 1967

Bến xe lam ngã ba Tháp 1967,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

178. Chợ Trúc Giang – Khu vực chợ Hàng chiếu năm 1969

Chợ Trúc Giang - Khu vực chợ Hàng chiếu năm 1969,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

179. Ngã ba Tân Thành 1990, đi thẳng về Sơn Đông, quẹo phải về Rạch Miễu

Ngã ba Tân Thành 1990, đi thẳng về Sơn Đông, quẹo phải về Rạch Miễu,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

180. Ngã ba Tân Thành, khoảng năm 1990. Hướng nhìn từ Sơn Đông xuống.

Ngã ba Tân Thành, khoảng năm 1990. Hướng nhìn từ Sơn Đông xuống.,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

81. Không ảnh khu vực Thánh Thất Cao Đài năm 1968

Không ảnh khu vực Thánh Thất Cao Đài năm 1968,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Không ảnh khu vực Thánh Thất Cao Đài năm 1968 – Đường Trương Định P.6 hiện nay, có thể thấy khu vực đối diện xéo hông phải thánh thất còn ám khói trận Mậu Thân

,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Đại lộ Phan Thanh Giản, trước trường Tiểu học nữ tỉnh lỵ (hình trên, trái và hình dưới) và Trường tiểu học nam Phan Thanh Giản (đổi tên từ trường Cộng Đồng Dẫn Đạo trước đó) năm 1965-66 (Trường tiểu học Bến Tre và Phú Thọ ngày nay).

183. Chở củi dừa trên kinh Chợ Gạo năm 1969

Chở củi dừa trên kinh Chợ Gạo năm 1969,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sửẢnh: Lance & Cromwell
,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Hai bức ảnh cùng 1 vị trí cách nhau gần 60 năm

1. Trường TH tư thục Bác Ái 1958

2. Công ty cổ phần in Bến Tre 2016 (32, Thủ Khoa Huân, P3)

185. Khu vực bùng binh trung tâm Kiến Hòa khoảng 1965

Khu vực bùng binh trung tâm Kiến Hòa khoảng 1965,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

186. Sân trường tiểu học nữ tỉnh lỵ năm 1968 – 1969

Sân trường tiểu học nữ tỉnh lỵ năm 1968 - 1969,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

187. Sân trường Tiểu học nữ tỉnh lỵ năm 1968 – 1969

Sân trường Tiểu học nữ tỉnh lỵ năm 1968 - 1969,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

188. Hồ Trúc Giang năm 1972

Hồ Trúc Giang năm 1972,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

189. Sân trường Phan Thanh Giản

Sân trường Phan Thanh Giản,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

190. Trường Trung học công lập Kiến Hòa năm 1972

Trường Trung học công lập Kiến Hòa năm 1972,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

191. Học sinh trường Trung học công lập Kiến Hòa chụp ảnh trên bờ hồ Trúc Giang năm 1972

Học sinh trường Trung học công lập Kiến Hòa chụp ảnh trên bờ hồ Trúc Giang năm 1972,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

192. Học sinh trường Trung học công lập Kiến Hòa năm 1972

Học sinh trường Trung học công lập Kiến Hòa năm 1972,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

193. Bến phà Hàm Luông phía Thanh Tân – Mỏ Cày khoảng 2003 (có Mercedes Sprinter)

Bến phà Hàm Luông phía Thanh Tân - Mỏ Cày khoảng 2003 (có Mercedes Sprinter),Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

194. Trường tiểu học Nhơn Thạnh – khoảng 1990

Trường tiểu học Nhơn Thạnh - khoảng 1990,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

195. Chợ Bến Tre thời Pháp

Chợ Bến Tre thời Pháp,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

196. Đưa dâu trong đám cưới vùng quê An Hiệp – Bến Tre năm 1960

Đưa dâu trong đám cưới vùng quê An Hiệp - Bến Tre năm 1960,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

197. Một lớp dạy cắt may ở khu vực An Hiệp – Hàm Long năm 1960

Một lớp dạy cắt may ở khu vực An Hiệp - Hàm Long năm 1960,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

198. Trường THCS Mỹ Hóa cũ, khoảng năm 1992

Trường THCS Mỹ Hóa cũ, khoảng năm 1992,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

(Theo Huynh Seldom)

Hoài niệm Bến Tre xưa qua 200 bức ảnh thế kỷ trước phần 1

Cùng quay ngược thời gian tìm lại Bến Tre xưa qua những bức ảnh cổ. Mời các bạn cùng khám phá.

Bến Tre là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, tiếp giáp biển Đông với chiều dài đường biển khoảng 65 km và các tỉnh Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long. Trước kia, tỉnh Bến Tre là vùng hoang vu, một thời gian sau đó có một vài nhóm người đến định cư và thường tập trung nơi đất cao trên các giồng các ven biển, hoặc dọc theo các đê sông, rạch, thuận tiện cho việc đi lại, sinh sống và tránh lũ lụt. Bến Tre cũng được biết đến với biệt danh là “Xứ Dừa”. Từ thời Chiến tranh Việt Nam, Bến Tre được coi là “quê hương Đồng khởi”, mở đầu cho cao trào đấu tranh vũ trang của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam chống chế độ Ngô Đình Diệm, khốc liệt nhất là trong năm 1960.

Bến Tre trong ký ức được ghi lại qua những bức ảnh cổ do Huynh Seldom cung cấp và chú giải sẽ giúp các bạn mường tượng về khung cảnh của Bến Tre trong những thập niên trước. Bộ sưu tập với gần 200 bức ảnh là một nguồn tư liệu quý giá cho những ai yêu lịch sử, yêu quê hương Bến Tre nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung.

2. Trường Mỹ Hóa, khoảng năm 1992

 Trường Mỹ Hóa, khoảng năm 1992,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Trước mặt bên trái là trường Mỹ Hóa, khoảng năm 1992. Đoạn này sạt lở nhiều nhất do có cống cắt ngang.

3. Bến phà Hàm Luông, phía Cầu Bắc (Thanh Tân, Mỏ Cày), những năm 2000

Bến phà Hàm Luông, phía Cầu Bắc (Thanh Tân, Mỏ Cày), những năm 2000,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

4. Bến phà Hàm Luông, phía Vàm phường 7, khoảng năm 1992

Bến phà Hàm Luông, phía Vàm phường 7, khoảng năm 1992,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

5. Cầu Bến Tre (mà thường bị gọi nhầm là cầu Cái Cối), nhìn về Bùng Binh, khoảng những năm 90

Cầu Bến Tre (mà thường bị gọi nhầm là cầu Cái Cối), nhìn về Bùng Binh, khoảng những năm 90,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

6. Bùng binh trung tâm Bến Tre 1967

Bùng binh trung tâm Bến Tre 1967,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Bùng binh trung tâm Bến Tre 1967. Tiệm Huê Liên ngày nay bán phụ tùng và sửa xe gắn máy.

7. Một quán nước xưa tại Bến Tre

Một quán nước xưa tại Bến Tre,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

8. Toàn cảnh cầu Cái Cối.

Toàn cảnh cầu Cái Cối.,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Toàn cảnh cầu Cái Cối. Theo ông bà xưa nói rằng, thực ra cầu Cái Cối là cây cầu nhỏ ở trong chứ không phải cây cầu lớn này, cầu lớn này là Bến Tre, do người ta quen gọi và dần bị mất tên. Giờ nó được xây mới và lấy tên như xưa là cầu Bến Tre.

9. Cầu Cái Cối

Cầu Cái Cối,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Tấm chụp cầu Cái Cối nhỏ phía trong, do phóng viên của tờ LIFE – Mỹ chụp

10. Bến phà Hàm Luông phía Mỏ Cày – khoảng 1990

Bến phà Hàm Luông phía Mỏ Cày - khoảng 1990,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

11. Chợ Tú Điền xưa (khoảng 1993) và gần đây (2007)

Chợ Tú Điền xưa (khoảng 1993) và gần đây (2007),Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

12. Vận động trường 1956 – nay là Siêu thị Co.opmart

Vận động trường 1956 - nay là Siêu thị Co.opmart,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

13. Hồ Trúc Giang 1982

Hồ Trúc Giang 1982 ,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

14. Phà Hàm Luông khoảng 1985

Phà Hàm Luông khoảng 1985,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Phà Hàm Luông khoảng 1985 đang từ phía Mỏ Cày chuẩn bị cập bến phía Vàm Phường 7, Thị xã Bến Tre, thời điểm này phà chưa có hàng rào mỏ bàn.

15. Khu vực Bùng binh, chợ nhà lồng xưa, nay là trụ sở báo Đồng Khởi

Khu vực Bùng binh, chợ nhà lồng xưa, nay là trụ sở báo Đồng Khởi,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

16. Bentre Paysages – Phong cảnh xứ dừa, thời Pháp, đây là một trong những bức ảnh rất hiếm

Bentre Paysages - Phong cảnh xứ dừa, thời Pháp, đây là một trong những bức ảnh rất hiếm,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

17. Plantation de cocotiers – Vườn dừa, thời Pháp

Plantation de cocotiers - Vườn dừa, thời Pháp,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

18. Đường Hùng Vương – Bến lở thời Pháp đầu thế kỷ 20

Đường Hùng Vương - Bến lở thời Pháp đầu thế kỷ 20,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

19. Bến lở thời Pháp

Bến lở thời Pháp,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

20. Ngã ba Tháp 1964

Ngã ba Tháp 1964,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sửPhoto by Chris Newlon Green

Ngã ba Tháp 1964 – vị trí này nằm ngay sau lưng tượng đài Đồng Khởi hiện nay – Xa xa ở giữa hình là khúc cuối của đường Phan Thanh Giản (Đại lộ Đồng Khởi hiện nay) dẫn ra cổng kiểm soát ghe thuyền (chân cầu Bến Tre hiện nay).

21. Cổng kiểm soát ghe thuyền (chân cầu Bến Tre hiện nay) cuối đường Phan Thanh Giản (Đại lộ Đồng Khởi hiện nay), khoảng năm 1967

Cổng kiểm soát ghe thuyền (chân cầu Bến Tre hiện nay) cuối đường Phan Thanh Giản (Đại lộ Đồng Khởi hiện nay), khoảng năm 1967,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Cổng kiểm soát ghe thuyền (chân cầu Bến Tre hiện nay) cuối đường Phan Thanh Giản (Đại lộ Đồng Khởi hiện nay), khoảng năm 1967. Đường Lê Lai phía bên trái ảnh vẫn còn cho đến ngày nay.

22. Không ảnh thị xã Bến Tre 1968

Không ảnh thị xã Bến Tre 1968,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sửPhoto by Alfred Eisenstaedt

,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

24. Bùng binh Bến Tre thời Pháp 1948-1950

Bùng binh Bến Tre thời Pháp 1948-1950,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Bùng binh Bến Tre thời Pháp 1948-1950 (hình cực hiếm).

25. Cầu Cái Cá, bên trái là trại cây Nam Lợi

Cầu Cái Cá, bên trái là trại cây Nam Lợi,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

26. Thi công cầu Chợ Lách 1995

Thi công cầu Chợ Lách 1995,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

27. Một góc chợ ở Trúc Giang 1967

Một góc chợ ở Trúc Giang 1967,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

28. Đại lộ Phan Thanh Giản (nay là đại lộ Đồng khởi), khoảng 1965

Đại lộ Phan Thanh Giản (nay là đại lộ Đồng khởi), khoảng 1965,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

29. Lộ số 4 năm 1994

Lộ số 4 năm 1994,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

30. Bến xe lôi gần bến phà

Bến xe lôi gần bến phà,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

31. Đoạn gần trường Mỹ Hóa

Đoạn gần trường Mỹ Hóa,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

32. Đoạn gần trường Mỹ Hóa, hồ sen trước UBND phường 7 cũ và miếu Bà

Đoạn gần trường Mỹ Hóa, hồ sen trước UBND phường 7 cũ và miếu Bà,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

33. Lộ số 4 – phía đường Nguyễn Huệ đi qua đường Trần Quốc Tuấn

Lộ số 4 - phía đường Nguyễn Huệ đi qua đường Trần Quốc Tuấn,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

34. Cô bé bán mía ghim chợ Lương Phú – 1967

Cô bé bán mía ghim chợ Lương Phú - 1967,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

35. Ngã ba Rùa 1990 – khu làm nhang – chân cầu Bến Tre 2 hiện nay

Ngã ba Rùa 1990 - khu làm nhang - chân cầu Bến Tre 2 hiện nay,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

36. Bến xe lôi sát bến phà nhìn về hướng thị xã

Bến xe lôi sát bến phà nhìn về hướng thị xã,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

37. Không ảnh Trúc Giang 1968

Không ảnh Trúc Giang 1968,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sửPhoto by Alfred Eisenstaedt

38. Đình An Hội thời Pháp

Đình An Hội thời Pháp,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

39. Bến lở thời Pháp

Bến lở thời Pháp,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sửLes quais – Phố cặp bờ sông

40. Thanh niên vui chơi trước Villa Trần Quế Tử – khoảng 1995

Thanh niên vui chơi trước Villa Trần Quế Tử - khoảng 1995,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

41. Học sinh trường Mỹ Hóa tan trường – khoảng năm 1992

Học sinh trường Mỹ Hóa tan trường - khoảng năm 1992,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

42. Học sinh trường Mỹ Hóa tan trường – khoảng năm 1992

Học sinh trường Mỹ Hóa tan trường - khoảng năm 1992,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Học sinh trường Mỹ Hóa tan trường, đang chạy về hướng bến phà – khoảng năm 1992

43. Cầu và Nhà thờ Cái Mơn

Cầu và Nhà thờ Cái Mơn,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

44. Đoạn gần cầu Kiến Vàng

Đoạn gần cầu Kiến Vàng,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

45. Nhà hàng nổi những năm 90 nằm gần Bảo tàng tỉnh

Nhà hàng nổi những năm 90 nằm gần Bảo tàng tỉnh,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Nhà hàng nổi những năm 90 nằm gần Bảo tàng tỉnh. Hiện nay được sửa sang – tạo hình rồng và kéo về phía Phường 7 khoảng 200 mét, gần cầu Kiến Vàng cũ.

46. Hợp tác xã phơi dừa trước sân – 1982

Hợp tác xã phơi dừa trước sân - 1982,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

47. Không ảnh cầu Cái Cối và cầu Bến Tre bị đánh sập trong chiến tranh 1968

Không ảnh cầu Cái Cối và cầu Bến Tre bị đánh sập trong chiến tranh 1968,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

48. Trường tiểu học Nhơn Thạnh – 1990

Trường tiểu học Nhơn Thạnh - 1990,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

49. Vị trí Công viên tượng đài Hoàng Lam hiện nay

Vị trí Công viên tượng đài Hoàng Lam hiện nay,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

50. Vị trí Khách sạn Hàm Luông hiện nay

Vị trí Khách sạn Hàm Luông hiện nay,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

51. Một góc chợ bờ sông, bên phải là chợ cá 1967, hiện nay là chợ đêm Bến Tre

Một góc chợ bờ sông, bên phải là chợ cá 1967, hiện nay là chợ đêm Bến Tre,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

52. Đoạn gần trường Mỹ Hóa

Đoạn gần trường Mỹ Hóa,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

53. Cầu Cái Cối

Cầu Cái Cối ,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

54. Bến đò cây mận – bờ kè bến lở Bến Tre những năm 1990

Bến đò cây mận - bờ kè bến lở Bến Tre những năm 1990,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

55. Qua cua quẹo này sẽ tới bến phà, trước mặt là nhà máy xay xát, 1990

Qua cua quẹo này sẽ tới bến phà, trước mặt là nhà máy xay xát, 1990,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

56. Qua cua quẹo này sẽ tới bến phà, trước mặt là nhà máy xay xát, 1990

Qua cua quẹo này sẽ tới bến phà, trước mặt là nhà máy xay xát, 1990,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

57. Trường tư thục Đại Đồng của người Hoa

Trường tư thục Đại Đồng của người Hoa,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Ảnh chụp khoảng 1990, hiện nay là Đồng khởi Palace.

58. Bến phà Hàm Luông phía Mỏ Cày – những năm 1990

Bến phà Hàm Luông phía Mỏ Cày - những năm 1990,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

59. Nhà thủy tạ hồ Chung Thủy (Trúc Giang)

Nhà thủy tạ hồ Chung Thủy (Trúc Giang),Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

60. Cầu Cái Cá 1995

Cầu Cái Cá 1995,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

61. Cầu Cái Cá bên tay trái, khu nhà này giờ đã thành công viên

Cầu Cái Cá bên tay trái, khu nhà này giờ đã thành công viên,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử
,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

63. Dốc cầu Kinh Chẹt Sậy phía phường 8, khoảng năm 2000

Dốc cầu Kinh Chẹt Sậy phía phường 8, khoảng năm 2000,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

64. Cầu Kiến Vàng những năm 1995

Cầu Kiến Vàng những năm 1995,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

65. Đường cặp bờ sông khoảng những năm 1990, gần khu vực cầu Kiến Vàng

Đường cặp bờ sông khoảng những năm 1990, gần khu vực cầu Kiến Vàng,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

66. Cầu Sơn Đông 1990

Cầu Sơn Đông 1990,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

67. Cây xăng Shell 1967, hướng nhìn về phía bùng binh, hiện nay là ngân hàng BIDV – đối diện trại Quang Trung

Cây xăng Shell 1967, hướng nhìn về phía bùng binh, hiện nay là ngân hàng BIDV - đối diện trại Quang Trung,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử
,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sửMột lớp học năm 1992
,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

70. Khu vực điện nổi của ông đạo Dừa, cồn Tân Dinh năm 1967, là khu du lịch Cồn Phụng hiện nay

Khu vực điện nổi của ông đạo Dừa, cồn Tân Dinh năm 1967, là khu du lịch Cồn Phụng hiện nay,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

71. Thần dân của ông Nguyễn Thành Nam đang làm lễ năm 1969

Thần dân của ông Nguyễn Thành Nam đang làm lễ năm 1969,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

72. Không ảnh cầu Mỏ Cày 2005

Không ảnh cầu Mỏ Cày 2005,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

73. Phà Việt Đan thuộc bến phà Hàm Luông, năm 1999

Phà Việt Đan thuộc bến phà Hàm Luông, năm 1999,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

74. Bến phà Rạch Miễu năm 1969

Bến phà Rạch Miễu năm 1969,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

75. Xe đò Thạnh Phú

Xe đò Thạnh Phú ,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

76. Chèo ghe trên sông Bến Tre 1965

Chèo ghe trên sông Bến Tre 1965,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử
,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử
,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Ở giữa là nhà lồng chợ Bến Tre, thời gian này sau 68 vì chợ đã được xây lại với kiến trúc khác chợ Trúc Giang đã bị tàn phá, giờ là chợ Phường 2

79. Ngã 3 Tân Thành nhìn về hướng phà Rạch Miễu

Ngã 3 Tân Thành nhìn về hướng phà Rạch Miễu,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

80. Không ảnh cầu Bến Tre bị đánh sập 1968

Không ảnh cầu Bến Tre bị đánh sập 1968,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

81. Chợ Trúc Giang – Khu hàng chuối, đầu đường Lê Lai nhìn vào, năm 1967

Chợ Trúc Giang - Khu hàng chuối, đầu đường Lê Lai nhìn vào, năm 1967,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử
,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

84. Nữ sinh trường TH Kiến Hòa chụp ảnh trên bờ hồ Chung Thủy – khoảng 1965

Nữ sinh trường TH Kiến Hòa chụp ảnh trên bờ hồ Chung Thủy - khoảng 1965,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

85. Đua ghe trên sông Bến Tre dịp tết cổ truyền thời Pháp

Đua ghe trên sông Bến Tre dịp tết cổ truyền thời Pháp,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

86. Phà đổ khách

Phà đổ khách,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

87. Nhà thủy tạ hồ Chung Thủy

Nhà thủy tạ hồ Chung Thủy,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

88. Nhà thủy tạ hồ Chung Thủy

Nhà thủy tạ hồ Chung Thủy,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

89. Nhà thủy tạ hồ Trúc Giang

Nhà thủy tạ hồ Trúc Giang,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

90. Ngã Ba Rùa 1990 (?)

Ngã Ba Rùa 1990 (?),Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

1. Ngã tư Phú Khương 1990

Ngã tư Phú Khương 1990,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

92. Ngã tư Phú Khương 1990

Ngã tư Phú Khương 1990 ,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

93. Ngã tư Phú Khương 1990

Ngã tư Phú Khương 1990,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

94. Ngã tư Phú Khương khoảng 1990, vị trí này đối diện với Thế giới di động hiện nay (theo trục đại lộ Đồng Khởi)

Ngã tư Phú Khương khoảng 1990, vị trí này đối diện với Thế giới di động hiện nay (theo trục đại lộ Đồng Khởi),Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

95. Chợ Tú Điền 1990

Chợ Tú Điền 1990,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

96. Cầu bốc xếp của nhà máy Lợi Dân, gần Villa Trần Quế Tử

Cầu bốc xếp của nhà máy Lợi Dân, gần Villa Trần Quế Tử,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

97. Ngã ba Tân Thành 1995

Ngã ba Tân Thành 1995,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

98. Ngã ba gần bến phà Rạch Miễu

Ngã ba gần bến phà Rạch Miễu,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

99. Ngã ba Tân Thành 2003

Ngã ba Tân Thành 2003,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

100. Ngã tư Biếu Ký – những năm 80

Ngã tư Biếu Ký - những năm 80,Bến Tre xưa,Xứ dừa,hình xưa,ảnh cổ,ảnh lịch sử

Đạo Dừa ở Bến Tre

Nguyễn Thành Nam sinh ngày 25 tháng 12 năm Kỷ Dậu (1910)[2] tại làng Phước Thạnh, tổng An Hòa, quận Trúc Giang, tỉnh Kiến Hòa (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre). Ông là con của một gia đình giàu có. Cha tên Nguyễn Thành Trúc, làm chánh tổng từ năm 1940 đến năm 1944 và mẹ là bà Lê Thi Sen.

Năm 1928, ông sang Pháp du học tại Rouen. Năm 1935, ông tốt nghiệp kỹ sư hóa học và về nước. Năm 1935, ông cưới bà Lộ Thị Nga và sinh ra một người con gái tên là Nguyễn Thị Khiêm. Năm 1945, ông đến chùa An Sơn ở Bảy NúiChâu Đốc, quy y cầu đạo với hòa thượng Thích Hồng Tôi. Tu theo luật đầu đà, ông ngồi tại bệ đá trước cột phướn chùa suốt 3 năm, đêm ngày tịnh khẩu, chịu đựng gió sương, thân hình chỉ còn da bọc xương. Năm 1948, ông trở về Định Tường (nay là Tiền Giang) ngồi tựa mé sông trên cầu Bắc, hành đạo mặc kẻ qua người lại.

Tấm đá cẩm thạch ghi vắn tắt lai lịch ông Đạo Dừa và người giúp ông xây dựng nơi hành đạo, được gắn trên đỉnh

Năm 1950, ông trở lại xã Phước Thạnh dựng đài bát quái cao 14 thước, đêm đêm lên ngồi hành đạo trên đài, choàng một manh áo, chịu đựng mưa nắng. Cuộc sống tu hành đơn sơ, đạm bạc, thức ăn chỉ là trái cây, chủ yếu là dừa (nên mới có biệt danh là Ông Đạo Dừa). Mỗi năm ông chỉ tắm một lần vào ngày Phật Đản. Năm 1958, ông gửi thư phản đối Tổng thống Ngô Đình Diệm về một chính sách, nên bị bắt giam, sau được thả ra.

Năm 1963, ông Nguyễn Thành Nam đến Cồn Phụng thuộc xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xây dựng chùa Nam Quốc Phật, và tại đây ông lập ra đạo Dừa. Ông đặt mua một xà lan lớn có sức chứa hàng trăm tấn, thiết kế làm ba tầng đưa về neo đậu bên một khu đất, trên đó xây dựng một số tháp, đài, nhà khách, vườn hoa.[3]

Ông tự xưng là Quyền thiên nhơn lãnh đạo Thích Hòa Bình, tuyên bố theo cả ba tôn giáo là NhoPhậtLão. Đạo của ông không cần tụng kinh, gõ mõ mà chỉ cần ngồi tham thiền và ăn chay, tưởng niệm,… và khuyến khích người đời sống tôn trọng lễ nghĩa và yêu thương nhau, cư xử hòa mục với nhau. Về thực phẩm, Đạo Dừa khuyên nên ăn dừa và uống nước dừa.

Ông thử nghiệm hòa đồng dân tộc bằng cách nuôi chuột và mèo sống chung với nhau trong một lồng. Qua hình ảnh này ông chứng-minh là hai kẻ đối nghịch vẫn có thể “sống chung hòa bình” và mong muốn Việt Nam sẽ không còn chiến tranh. Năm 1967, ông có nhờ báo chí tuyên truyền đạo của mình và vận động ra tranh cử tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Dịp này, có một tín đồ tặng ông một cặp ngà voi, mỗi chiếc dài 1,8 m, nặng 45 kg, có đường kính 0,5m. Nay cặp ngà voi này được công nhận là cặp ngà voi lớn nhất Việt Nam, hiện đang được trưng bày ở phòng khách Tỉnh ủy (Đảng Cộng sản Việt Nam) tại Bến Tre.[4] Trong số tín đồ Đạo Dừa có con trai của nhà văn Mỹ John Steinbeck.

Một chùa nổi đạo Dừa

Sau năm 1975, Đạo Dừa bị cấm, tài sản bị nhà nước trưng dụng, ông tìm cách vượt biên nhưng không thành và bị đưa đi học tập cải tạo. Về sau, ông được người thân trong gia đình lãnh về sống tại Phú An Hòa. Sau khi được tự do, thấy đệ tử bá tánh đến thăm ngày càng đông, ông Đạo Dừa bắt đầu hoạt động trở lại như trước. Nơi ở của ông biến thành nơi tu đạo, cũng thờ tượng PhậtChúa gọi là “Hòa đồng Tôn giáo”, mua ghe làm thuyền Bát Nhã và thỉnh thoảng xuống ghe “tu”. Ban đầu ông Đạo Dừa trích ra một phần tiền cúng dường của tín đồ để tu sửa cầu đường ở hai xã Phú An Hòa và An Phước và đòi chính quyền địa phương cho đặt tên đường mang tên ông là “đường Đạo Dừa Nguyễn Thành Nam”. Chính quyền không đồng ý, chỉ cấp bằng khen hộ Nguyễn Thành Nam có thiện chí đóng góp xây dựng nông thôn ở quê nhà.[5] Ông Đạo Dừa còn thành lập đài phát thanh từ trên ghe nơi ông cư trú, mục đích là truyền bá nội dung “đạo bất tạo con” do ông sáng chế. Theo một người từng được ông phân công tuyển lựa tín đồ theo “Đạo Bất tạo con” thì phương pháp dạy, hành đạo này là nam nữ trần truồng ở chung với Cậu Hai (tức Nguyễn Thành Nam), ai phạm tội giao cấu bị phạt 10 năm tù hoặc tử hình.[5] Chính quyền tỉnh Bến Tre đã ra quyết định ngưng toàn bộ hoạt động phát thanh của ông Đạo Dừa, tịch thu toàn bộ máy móc phương tiện, kiểm điểm những sai phạm của ông Đạo Dừa và một số tay chân thân cận của ông. Chiều ngày 12 tháng 5 năm 1990, công an Bến Tre cùng công an địa phương đến yêu cầu ông trở về nơi cư trú cũ vì ông có hành vi tuyên truyền mê tín dị đoan. Một số người thân cận ông chống lại lực lượng thi hành công vụ, họ đã níu kéo ông lại khiến ông rơi từ trên gác xuống nền nhà bị chấn thương nặng. Ông qua đời vào sáng hôm sau tại bệnh viện ở tuổi 81.

Người chiến sĩ tình báo 5 năm giả gái sống trong hang ổ địch

Người chiến sĩ tình báo 5 năm giả gái sống trong hang ổ địch

Tập ăn mặc và cư xử như một cô gái, trở thành một tình báo viên thâm nhập vào tổ chức “Thiên Nga Phụng Hoàng”. Chiến sĩ tình báo đặc biệt mật danh F5 này đã giúp du kích tiêu diệt nhiều tên ác ôn, nằm vùng. Vẻ đẹp mặn mà, duyên dáng của “chị” từng khiến con trai Tỉnh trưởng Bến Tre nằng nặc đòi rước về làm vợ. Trong lịch sử tình báo thế giới, trường hợp của ông Năm Thắng chưa từng được ghi nhận.