18 Tháng Chín, 2020

Thiên nhiên hoang dã

Campuchia – Vương quốc của nước

Ngoại trừ một số con sông nhỏ ở phía tây nam, hầu hết các con sông và hệ thống sông tại Campuchia đều đổ vào Tonle Sap hay sông Mê Kông. Phnom Kravanh và dãy núi Damrei tạo thành một đường phân nước. Ở phía đông, các công sông đổ nước vào Tonle Sap, trong khi các con sông ở sườn tây chảy ra vịnh Thái Lan. Tuy vậy, ở phía cực nam của dãy Damrei, do ảnh hưởng của địa hình, một số con sông nhỏ chảy về phía nam và lệch sang phía đông của đường phân nước.

Từ biên giới Campuchia-Lào, sông Mê Kông chảy theo hướng nam đến điểm dưới thành phố Kratie, tại đây, sông chảy 50 km về phía tây và sau đó theo hướng tây nam đến thủ đô Phnom Penh. Ở phía trên Kratie, dòng sông có nhiều thác ghềnh, còn từ Kampong Cham, dòng sông khá hiền hòa, và khu vực hai bên bờ sông thường bị ngập lụt vào giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 11. Tại Phnôm Pênh, bốn dòng nước gặp nhau ở một điểm gọi là Chattomukh (Bốn mặt). Sông Mê Kông chảy từ hướng đông bắc xuống và sông Tonle Sap nối với Tonle Sap ở tây bắc. Chúng hợp lưu rồi phân ngay thành 2 dòng nước là sông Mê Kông (tức sông Tiền) và sông Basak (sông Hậu), và chảy độc lập với nhau qua vùng dồng bằng châu thổ tại Campuchia và Việt Nam rồi đổ ra Biển Đông.

Lưu lượng nước vào Tonle Sap là tùy thuộc theo mùa. Vào tháng 9 hay tháng 10, dòng chảy của sông Mê Kông, được cấp thêm từ các trận mưa do gió mùa, tăng lên đến điểm mà các dòng chảy qua đồng bằng không thể chứa được nữa. Lúc này, dòng nước bị đẩy về phía bắc theo sông Tonle Sap và đổ vào the Tonle Sap, do đó làm tăng kích thước của hồ từ khoảng 2.590 km² đến khoảng 24.605 km² vào cao điểm mùa lũ. Sau khi nước sông Mê Kông lên đến đỉnh và các dòng chảy phía hạ du có thể chứa được dung tích nước, dòng sông đảo ngược và chảy từ hồ ra sông.

Sau khi nước rút khỏi Tonle Sap, nó để lại một lớp trầm tích mới. Các trận lụt hàng năm, cộng với việc thoát nước yếu quanh hồ, đã biến vùng xung quanh Tonle Sap thành một đầm lầy khó có thể sử dụng cho mục đích nông nghiệp vào mùa khô. Lượng trầm tích lắng đọng trong hồ vào giai đoạn lũ lụt lớn hơn lượng được sông Tonle Sap mang đi sau đó. Dần dấn, hiện tượng bồi lắng hồ có vẻ đang xảy ra; khi mực nước thấp, nó chỉ sâu khoảng 1,5 mét, còn trong mùa lũ, độ sâu là từ 10 đến 15 mét.

 

Amazon – Ngôi Nhà Của Muôn Loài

Rừng nhiệt đới Amazon là rừng lớn nhất trên thế giới, bao phủ đa phần lưu vực sông Amazon, chủ yếu tại Brazil và trải rộng ra một số nước láng giềng. Tổng diện tích của rừng là chừng 4 triệu km vuông. Tuy nhiên, khoảng 14% diện tích rừng Amazon đã bị chặt phá, và tình trạng phá rừng vẫn tiếp tục với tốc độ khoảng 20 ngàn km vuông một năm.

🌳Khí hậu tại khu vực Amazon là nóng và rất ẩm. Trời mưa hàng ngày, thường mưa bất chợt và tích tụ nhiệt độ trên mặt đất. Cây cối trong rừng phải thích ứng với điều kiện khí hậu này, theo những cách sau:

• Cây mọc cao, có thể lên tới 40m, nhằm hấp thụ tối đa ánh mặt trời.
• Lá cây thường cong ở đầu để thoát nước mưa.
• Cây rừng thường chóng rụng lá; tuy nhiên các loại cây rụng lá vào thời điểm khác nhau nên rừng trông vẫn luôn xanh tươi.
• Cây cối thường mọc thẳng, chỉ vươn cành ở ngọn cây.
• Các dòng sông thường dâng nước ngập trong vài tháng một năm, do đó cây cối phải thích ứng với lượng nước dư thừa để không bị chết úng.
• Các loại hạt dưới mặt đất nẩy mầm bất cứ khi nào ánh nắng chiếu được xuống mặt đất rừng.
• Lá rụng và các sản phẩm khác của thực vật nhanh chóng mục và tiêu hủy để trở thành nguồn dinh dưỡng cho cây cối.
• Các loại dây leo thường mọc trên các thân cây để hấp thụ ánh sáng

🌴Có hàng ngàn loài động thực vật tại Amazon mà loài người vẫn chưa khám phá ra hết. Mọi sinh vật ở đây sống đều phụ thuộc vào nhau.

🌵Một chu kỳ phụ thuộc lẫn nhau có thể được giải thích ngắn gọn như sau: cây cối và thực vật chết đi và tiêu hủy để cung cấp chất dinh dưỡng cho các loại cây cối và thực vật mới mọc lên.

🎍Một ví dụ khác là sự phụ thuộc vào thời tiết: mưa cung cấp nước cho toàn bộ cộng đồng sinh vật. Các chu kỳ phụ thuộc lẫn nhau này được gọi là hệ sinh thái.

 

Malaysia – Những kẻ kỳ dị & rực rỡ của tự nhiên

Malaysia ký kết Công ước đa dạng sinh vật học Rio vào ngày 12 tháng 6 năm 1993, và trở thành một bên của công ước vào ngày 24 tháng 6 năm 1994. Sau đó, Malaysia đưa ra một kế hoạch chiến lược và hành động đa dạng sinh vật quốc gia, được công ước công nhận vào ngày 16 tháng 4 năm 1998.Malaysia là một quốc gia đa dạng sinh vật siêu cấp với một lượng lớn các loài và có mức độ loài đặc hữu cao. Theo ước tính, Malaysia có 20% số loài động vật trên thế giới.Mức độ loài đặc hữu cao được phát hiện tại các khu rừng đa dạng ở vùng núi Borneo, các loài tại đây bị cô lập với các loài khác ở các khu rừng đất thấp.

 

Nước từ sa mạc

Sa mạc là một vùng đất cằn cỗi, nhiệt độ luôn cao, có nơi lên đến 58°C và cực kỳ khan hiếm nước. Vì vậy, để có nước trên sa mạc là điều vô cùng khó khăn, tuy nhiên mọi việc đều có thể giải quyết nếu bạn học được cách sinh tồn.

Có thể nói toàn bộ sự sống trên sa mạc đều tùy thuộc vào nước. Nguồn nước là yếu tố quan trọng và quyết định số một đến mọi sự sống trong sa mạc. Để tìm ra hay tạo được nước trong sa mạc không phải là điều đơn giản. Phần lớn sa mạc không có sông, suối vĩnh cữu. Nước có trong ốc đảo hay giếng đào là do hiện tượng ngậm nước của tầng đất.

 

THẾ GIỚI ĐỘNG VẬT – LOÀI MỐI

Mối, tên khoa học Isoptera, là một nhóm côn trùng, có họ hàng gần với gián. Mối là nhóm côn trùng có “tính xã hội” cao. Mối là loài côn trùng hoạt động ẩn náu, theo đàn. Trên thế giới có hơn 2700 loài mối, thường thấy nhất là mối nhà, mối đất cánh đen.Tổ chức xã hội của loài mối gồm mối chúa, mối vua, mối lính và mối thợ. Mối chúa và mối vua đóng vai trò sinh sản trong tổ. Khi trưởng thành, một mối chúa có khả năng đẻ rất nhiều trứng. Ở một số loài, mối chúa trưởng thành có bụng rất to và có thể sản xuất 40.000 trứng mỗi ngày.

 

 

 

Thiên nhiên hoang dã Costa Rica | Costa Rica’s wildlife

Costa Rica là địa bàn sinh sống của nhiều loài động và thực vật. Tuy nước này chỉ chiếm khoảng 0.1% tổng diện tích lục địa, nơi đây tàng chứa 5% đa dạng sinh học thế giới.[cần dẫn nguồn] Hơn 25% diện tích lãnh thổ Costa Rica là các khu rừng và khu dự trữ thiên nhiên được bảo vệ.

Một vườn quốc gia nổi tiếng trong giới các nhà sinh thái thế giới từng được biết đến nhiều về sự đa dạng sinh vật (kể cả những con thú lớn như báo và heo vòi) là Vườn Quốc gia Corcovado. Vườn này cũng là nơi đón nhiều du khách đến xem nhiều loài động vật hoang dã.[cần dẫn nguồn]

Trong khi đó Vườn quốc gia Tortuguero là nơi sinh sống của khỉ nhệnkhỉ rú và khỉ mũ cổ trắnglười ba ngón, 320 loài chim (gồm nhiều loài vẹt), rất nhiều loài bò sát, nhưng nổi tiếng nhất là loài rùa xanh đang bị đe dọa tuyệt chủng. Hàng năm chúng dùng bãi biển khu vực này để đẻ trứng.

Khu dự trữ “rừng mây” Monteverde cũng phong phú với hai ngàn loài thực vật,[cần dẫn nguồn] gồm nhiều loại phong lan. Hơn bốn trăm loài chim và hàng trăm loài có vú cũng sinh sống tại đây. Tính tổng thể, khoảng tám trăm loài chim đã được kiểm chứng sinh sống tại Costa Rica.

Bờ biển hoang dã Colombia – Thế giới động vật – Thuyết minh

Vị trí gần đường xích đạo của Colombia gây ảnh hưởng tới thời tiết nước này. Các vùng đất thấp thường nóng. Những ảnh hưởng độ cao trên nhiệt độ rất lớn. Nhiệt độ giảm khoảng 2°C(3.5°F) với mỗi 300-meter (1.000-foot) tăng độ cao so với mực nước biển. Lượng mưa khác biệt theo từng vùng tại Colombia, có xu hướng tăng khi đi về phía nam. Điều này đặc biệt đúng với các vùng đất thấp phía đông. Ví dụ, lượng mưa tại nhiều phần ở Bán đảo Guajira hiếm khi vượt quá 75 cm (30 in) trên năm. Tuy nhiên, khu vực nhiều mưa phía đông nam Colombia thường xảy ra những trận mưa lớn với lượng mưa hơn 500 cm (200 in) mỗi năm. Lượng mưa ở hầu hết các vùng còn lại của đất nước nằm giữa hai khoảng trên.

Độ cao không chỉ gây ảnh hưởng trên thời tiết, mà còn cả thực vật. Trên thực tế, độ cao là một trong những yếu tố gây ảnh hưởng lớn nhất tới các loại thực vật tại Colombia. Các khu vực núi non có thể được chia thành nhiều khu vực thực vật theo độ cao, dù độ cao giới hạn của mỗi vùng có thể khác biệt phụ thuộc theo vĩ độ.

“Tierra caliente” (đất nóng), dưới 1.000 m (3.300 ft), là vùng đất với những thực vật nhiệt đới như chuối. Tierra templada (đất ôn hoà), trải dài từ độ cao 1.000 tới 2.000 m (3.300 tới 6.600 ft), là vùng trồng cà phê và ngô. Lúa mì và khoai tây được trồng nhiều tại “tierra fría” (đất lạnh), ở những độ cao từ 2.000 tới 3.200 m (6.600 tới 10.500 ft). Tại “zona forestada” (vùng rừng), nằm ở độ cao giữa 3.200 và 3.900 m (10.500 và 12.800 ft), nhiều loại cây đã bị chặt làm củi. Những đồng cỏ không cây cối bao phủ phần lớn páramos, hay những vùng đồng cỏ trên núi cao, ở độ cao 3.900 tới 4.600 m (12.800 tới 15.100 ft). Trên 4.600 m (15.100 ft), nơi nhiệt độ dưới mức đóng băng, là “tierra helada”, một vùng thường có băng tuyết.

Thực vật cũng phản ánh lượng mưa. Vùng đất bán khô cằn phía đông bắc với chủ yếu những cây bụi rải rác. Ở phía nam, các savannah (đồng cỏ nhiệt đới) bao phủ phần llano Colombia. Các vùng nhiều mưa phía đông nam với những khu rừng mưa nhiệt đới. Tại vùng núi, là những mô hình thực vật phức tạp. Phía sườn núi nhiều mưa với màu xanh của cây cối sum sê, trong khi ở sườn bên kia, nơi ít mưa, có thể khô nẻ.

Canh tác Coca là hoạt động phi pháp chính tại Colombia. Ở nhiều vùng nông thôn, nhiều dải đất lớn được dùng trồng coca. Theo những con số của Hoa Kỳ, năm 2004 ước tính 114.100 hécta (281.947 acres) đất đã được sử dụng cho mục đích này, và đất nước này có tiềm năng sản xuất 430.000 mét tấn cocaine mỗi năm.[7] According to a United Nations Office on Drugs and Crimesurvey, coca cultivation was estimated at 212.511 acres (86.000 hectares) in tháng 12 năm 2006.[8]

Trong năm 2006 Chính phủ Colombia đã phá hủy khoảng 73.000 hécta (180.387 acres) vượt mọi kỷ lục trong trồng cây coca. Chính phủ Colombia hiện có kế hoạch phá hủy khoảng 50.000 hécta (123.553 acres) trồng cây coca năm 2007 và họ tuyên bố sẽ chỉ còn 20.000 hécta (49.421 acres) được dùng cho mục đích này, và chúng cũng sẽ bị tiêu diệt trong năm 2008.[9] Tuy những nỗ lực tiêu diệt cây coca của Colombia đã khiến việc trồng cây phải chuyển địa điểm, chúng vẫn không hạn chế được số lượng diện tích sử dụng trồng loại cây này. [1] Việc này khiến mọi người nghi ngờ kế hoạch triệt hạ toàn bộ cây coca năm 2008 của Colombia.